Các doanh nghiệp có thể thấy cần hoặc chưa cần xây dựng thương hiệu công ty.  Các doanh nghiệp có thể chỉ cần quan tâm phát triển những chi tiết của thương hiệu công ty như logo, tên gọi, slogan…, nhưng nếu cộng dồn các chi phí đó lại thì các doanh nghiệp sẽ nhận thấy là mình đang tốn rất nhiều tiền mà không thấy hiệu quả những gì mình đã làm.  Thương hiệu công ty tồn tại bất chấp ý muốn của doanh nghiệp.  Nếu doanh nghiệp không tự khẳng định thương hiệu của mình thì người khác sẽ làm hộ cho doanh nghiệp.  Khi đó, doanh nghiệp lại mất công đi sửa chữa những gì mình không mong muốn.

.

Tìm kiếm
 
Hỗ trợ trực tuyến
04 6297 5006
My status
093 423 0873
 
Khách hàng
 
Tiện ích
Bản tin thời tiết
Tỷ giá vàng
Thông tin chứng khoán
Tỷ giá ngoại tệ
 
Thống kê
Lượt truy cập: 41648
Online: 6
 

Tin tức > Tin Vietname Pro >

Khách hàng mục tiêu của Vietname Pro là các ngân hàng thương mại cổ phần:

Cập nhập: 8/6/2010

Khách hàng mục tiêu của Vietname Pro là các ngân hàng thương mại cổ phần:Khách hàng mục tiêu của Vietname Pro là tất cả nhưng doanh nghiệp cổ phần của Việt Nam đã, đang và sẽ niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán. Tác giả sẽ lần lượt phân tích các nhóm khách hàng mục tiêu khác nhau. Mong muốn của tác giả là đem đến giải pháp tối ưu cho cho các doanh nghiệp cổ phần hiện đang có nhiều điều băn khoăn lo lắng. Tác giả hy vọng Vietname Pro sẽ là đối tác không thể thiếu trên con đường phát triển của các doanh nghiệp này.

      I.        Tại sao Vietname Pro lại nhằm vào các công ty cổ phần đã lên sàn chứng khoán?

    1.   Một nhóm người đại diện cho quyền lợi của tập thể:

Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam: Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.

Chỉ trong cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần mới có Hội đồng Quản trị. Trong công ty cổ phần thì Đại hội cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, tiếp đến mới là Hội đồng Quản trị.

Chính vì vậy, những gì có lợi cho doanh nghiệp sẽ được cân nhắc một cách công khai.

2.   Khi lên sàn, công ty cổ phần cần tìm cách giữ cho giá cổ phiếu của mình không giảm.

Mục đích lên sàn chứng khoán của các công ty cổ phần đều là nhằm tăng vốn, huy động vốn cho doanh nghiệp.  Vì vậy, không doanh nghiệp nào muốn giá cổ phiếu của mình giảm cả. Nhưng vấn đề then chốt của việc giữ cho giá cổ phiếu không giảm mạnh thì không phải ai cũng biết. 

Thật là khó nghĩ khi chúng ta phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn thì giá cổ phiếu lại giảm, đồng nghĩa với việc chúng ta không huy động được số vốn mong muốn.  

Thế mà vẫn có cách để duy trì giá cổ phiếu, thậm chí còn tăng giá khi chúng ta cần thêm vốn đấy. 

3.   Công ty cổ phần trên sàn chứng khoán cần công khai thông tin về tài chính và tình hình kinh doanh.

Việc công khai thông tin về tài chính và tình hình kinh doanh là áp lực cho hầu hết các doanh nghiệp. Đó là điều bắt buộc trong các báo cáo tài chính và bản cáo bạch, nhưng đó cũng là khe hở để các đối thủ cạnh tranh thu thập thông tin của doanh nghiệp.  

Doanh nghiệp không thể báo cáo lãi mãi được trong khi đang lỗ, như vậy sẽ càng lỗ thêm vì doanh nghiệp phải trích tiền chi trả lãi cổ tức.  Mà báo cáo lỗ thì giá cổ phiếu lại giảm.

“Khôn ngoan chẳng lọ thật thà”.   Ai cũng có lúc sai lầm thất bại.  Thương hiệu công ty luôn phát huy sức mạnh trong những lúc thế này.  

4.   Công ty cổ phần có lượng khách hàng, nhân viên và cổ đông rất lớn.

Qui mô của các doanh nghiệp cổ phần càng ngày càng lớn. Họ càng cần nhiều khách hàng và do vậy lượng nhân viên lại càng tăng. Họ càng cần nhiều vốn thì càng có nhiều cổ đông khi các cổ đông có vốn lớn lại không nhiều.  

Vậy làm sao để duy trì và tăng thêm lực lượng khách hàng, nhân viên và cổ đông?  Đó chính là câu hỏi đau đáu trong lòng mọi doanh nghiệp.  Câu trả lời duy nhất có sức thuyết phục mọi người đó là xây dựng và phát triển thương hiệu công ty.

5.   Một khi đã mất hay không có thương hiệu, công ty cổ phần coi như thất bại.

Khách hàng là người đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.  Nhân viên chính là người lôi kéo khách hàng về cho doanh nghiệp.  Cổ đông chính là người nâng cao giá trị tài sản cho doanh nghiệp. Các bạn thử nghĩ đi, khi không có thương hiệu hay thương hiệu đã mất, ba nhóm người sở hữu thương hiệu công ty của doanh nghiệp có còn tồn tại không? 

II.       Đặc điểm của các ngân hàng thương mại cổ phần theo cách nhìn của thương hiệu:

1.   Mục tiêu và động lực hoạt động rất giống nhau:  

Hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần là nền tảng cho việc lưu chuyển tiền tệ của nền kinh tế, vì thế đã đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia.

Các tổ chức kinh tế sau khi đã trải qua một quá trình phát triển đủ dài và có tích lũy tài sản đủ lớn sẽ việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới và đa dạng hoạt động kinh doanh là rất bình thường. Họ gia nhập hoạt động kinh doanh ngân hàng giúp giải quyết vấn đề tìm hướng phát triển mới, đa dạng kinh doanh và phân tán rủi ro của doanh nghiệp.

Ngân hàng bản chất là tổ chức trung gian hỗ trợ quá trình đưa vốn từ các đơn vị thặng dư sang các đơn vị thâm hụt.

2.   Đều trăn trở về nhân sự, công nghệ và hiệu quả vận hành:

Nhân sự: Con người luôn là nguồn lực quan trọng trong mọi tổ chức kinh doanh.

Công nghệ: Hệ thống công nghệ rất quan trọng trong công tác nghiệp vụ và vận hành Ngân hàng. Hệ thống quản lý thông tin nghiệp vụ cốt lõi Ngân hàng (thường gọi là core-banking) thể hiện sức mạnh công nghệ của Ngân hàng. Đây là nền tảng cho việc phát triển và triển khai các sản phẩm và dịch vụ.

Hiệu quả vận hành: Sở hữu đầy đủ nguồn lực con người, công nghệ, tài chính không có nghĩa NH sẽ lập tức vận hành hiệu quả.

3.   Không hề có sự khác biệt giữa các ngân hàng với nhau: 

Không quan tâm đến thương hiệu công ty, khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng sẽ chỉ quan tâm đến các điều sau: Khoảng cách, dịch vụ phí, sự tiện lợi, dịch vụ chăm sóc khách hàng, qui trình thủ tục, thái độ nhân viên, thời gian giải quyết vấn đề, các điểm ATM, …

Các tên của ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay chưa tạo cho khách hàng một ấn tượng sâu đậm nào.

Trong khi đó, thương hiệu công ty đề cao sự khác biệt. 

4.   Chưa thực sự xây dựng thương hiệu cho mình:

Bản thân khách hàng, nhân viên và cổ đông chưa ý thức được việc sở hữu thương hiệu của mình. 

Ban lãnh đạo và ban điều hành công ty chưa công khai chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.

Tất cả các phòng ban, phòng giao dịch, và các bộ phận liên quan chưa tự phát huy nội lực của mình, còn nhiều phụ thuộc và chưa phát huy sáng kiến trong công việc. 

Chưa có những thông điệp và phát ngôn chuẩn đồng nhất từ các bộ phận tiếp xúc với khách hàng.

5.   Cổ đông có thể nắm giữ cổ phần của nhiều ngân hàng một lúc.

Hiện nay các cổ đông đồng thời là cổ đông của nhiều ngân hàng thương mại cổ phần.  Họ chưa có ý thức trung thành và góp sức cho một thương hiệu công ty nào.  Họ sở hữu cổ phiếu theo cách mà các nhà đầu cơ vẫn làm.  Khi nào được giá thì họ bán.  

III.     Các thuận lợi khi làm thương hiệu cho ngân hàng cổ phần:

1.   Nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng tăng mạnh.

Hiện nay, dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại Việt Nam phát triển mạnh.  Dịch vụ bán lẻ được thực hiện dưới nhiều hình thức như cho vay mua nhà, mua xe ô tô, du học, chứng minh tài chính, cho vay cán bộ công nhân viên, thấu chi...

2.   Sử dụng ngân hàng hiện nay sắp thành một thói quen.

Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng được hưởng lương từ nguồn ngân sách Nhà nước đã mở ra nhiều cơ hội cho các ngân hàng; đồng thời cũng tạo nên thói quen mới trong sử dụng thẻ tín dụng (ATM).

Đa số cán bộ công chức khi được hỏi về việc sử dụng thẻ ATM đều đã cho biết, lúc đầu chưa quen, nhưng dùng lâu rồi cũng thấy tiện. Dùng thẻ ATM, người nhận lương còn được hưởng các quyền lợi khác: số tiền chưa dùng đến trong tài khoản được tính lãi không thời hạn; nhiều NH cho vay trước một tháng tiền lương hưu với lãi suất 0,05%/ngày mà không cần phải làm thủ tục tín chấp hay thế chấp; có thể đổi ngoại tệ, thanh toán các hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại, truyền hình cáp, mua thẻ cào...

3.   Các ngân hàng đều có thể học tập các tấm gương từ các ngân hàng lớn trên thế giới. 

Các ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay có rất nhiều lợi thế qua việc học hỏi về nhân sự, công nghệ và hiệu quả vận hành. Thậm chí, khi liên kết và bắt tay đối tác với các ngân hàng nước ngoài, chúng ta cũng được tham gia vào hệ thống ngân hàng cùng với họ. 

4.   Một số ngân hàng bán cổ phần cho các ngân hàng nước ngoài.

Điều này có nghĩa là các ngân hàng nước ngoài có thể tham gia góp ý kiến về việc cải tổ, nâng cấp cho các ngân hàng thương mại cổ phần này.   

5.   Hệ thống mạng lưới rộng khắp cả nước. 

Khách hàng ở đâu cũng có thể tiếp cận dịch vụ của ngân hàng.  Ngoài ra, đặt máy ATM ở nhiều nơi cũng giúp nhiều thuận tiện cho khách hàng. 

IV.    Các khó khăn khi làm thương hiệu cho ngân hàng cổ phần:

1.   Các thái độ, trình độ nhân viên các phòng giao dịch chưa đồng nhất.

Thực tế là chúng ta dễ dàng nhận thấy sự khác biệt này trong một phòng giao dịch hay tại các phòng giao dịch khác nhau của các ngân hàng thương mại cổ phần.  Đơn giản là do công tác đào tạo và quản lý chưa được tốt trong các ngân hàng này. 

2.  Các qui trình dịch vụ còn gặp nhiều khó khăn và chưa thống nhất cách giải quyết.

Khó khăn có thể xuất hiện ở bất cứ nơi nào do lý do này hay lý do khác.  Nhưng các cách giải quyết thì buộc phải thống nhất, nhất quán mọi nơi mọi lúc.   Lỗi này là do khâu truyền thông nội bộ và quản lí. 

3.   Chưa tìm được cách thu hút khách hàng, nhân viên, cổ đông trung thành.

Đây là công việc rất khó, nhưng ai cũng mong làm được.  Ngân hàng nào cũng có đặc điểm, lịch sử hay thế mạnh riêng.  Do vậy, họ cũng sẽ tìm ra cách thu hút khách hàng, nhân viên và cổ đông trung thành riêng cho mình. 

4.   Huy động vốn và mục tiêu lợi nhuận.

Huy động vốn: Các ngân hàng vẫn huy động vốn chủ yếu theo cách truyền thống, đó là nâng cao lãi suất tiết kiệm. Các ngân hàng cổ phần chưa phát huy thế mạnh huy động vốn của thị trường chứng khoán.

Mục tiêu lợi nhuận: Tiềm năng của ngành Ngân hàng là rất lớn, đồng nghĩa với kỳ vọng tăng trưởng cao của các cổ đông và áp lực lớn với bộ máy quản trị, vận hành. Bất trắc có thể xảy ra khi đội ngũ quản lý Ngân hàng chấp nhận mức rủi ro cao hơn nhằm đạt tới giới hạn tăng trưởng “nóng” trong thời gian ngắn.

5.   Cạnh tranh:

Có 4 lực lượng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại:

Ngân hàng thương mại mới tham gia thị trường. Các ngân hàng thương mại mới tham gia thị trường với những lợi thế quan trọng như: (i) Mở ra những tiềm năng mới; (ii) Có động cơ và ước vọng giành được thị phần; (iii) Đã tham khảo kinh nghiệm từ những ngân hàng thương mại đang hoạt động; (iv) Có được những thống kê đầy đủ và dự báo về thị trường…

Các đối thủ ngân hàng thương mại hiện tại. Đây là những mối lo thường trực của các ngân hàng thương mại trong kinh doanh. Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến chiến lược hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại trong tương lai. Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh thúc đẩy ngân hàng phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng các dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh.

Sức ép từ phía khách hàng. Một trong những đặc điểm quan trọng của ngành ngân hàng là tất cả các cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí là các ngân hàng khác cũng đều có thể vừa là người mua các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, vừa là người bán sản phẩm dịch vụ cho ngân hàng. Như vậy, ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn  giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả và giữ chân được khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể.

Sự xuất hiện các dịch vụ mới. Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian đe dọa lợi thế của các ngân hàng thương mại khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như các dịch vụ truyền thống vốn vẫn do các ngân hàng thương mại đảm nhiệm.

V.      Giải pháp chung cho các doanh nghiệp làm thương hiệu:

Doanh nghiệp cần có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu công ty.  Doanh nghiệp mới có thể giải quyết các khó khăn hiện tại, luôn sẵn sàng với các thay đổi trong tương lai và quan trọng là lấy lại lòng tin của khách hàng, người tiêu dùng, nhân viên, cổ đông và đối tác. 

Muốn vậy,  doanh nghiệp cần phải có được sự đồng tình nhất trí của ban lãnh đạo và ban điều hành doanh nghiệp, phải có được nhóm cộng sự chuyên nghiệp và chuyên tâm thực hiện tốt công việc này. 

Các bước tiến hành cần thiết cho công việc này như sau:

1. Phân tích tình hình doanh nghiệp:

Xây dựng thương hiệu công ty là một quá trình liên tục và lâu dài, nó phải được thực hiện xuyên suốt từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài. Để thực hiện được điều đó, việc đầu tiên là mỗi nhân viên trong công ty phải hiểu được giá trị và tinh thần thương hiệu của công ty để có thể truyền tải những thông điệp đó ra ngoài công ty và đặc biệt là tới khách hàng.  Phân tích tình hình doanh nghiệp nhằm mục đích tạo sự thống nhất quan điểm giữa các thành viên trong quá trình xây dựng thương hiệu công ty, triển khai thực hiện kế hoạch và lên kế hoạch kế tiếp.

2. Xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược thương hiệu: 

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần thiết có một định hướng cho sự phát triển bền vững và chắc chắn của doanh nghiệp đó.   Việc không vạch ra được định hướng này sẽ làm cho doanh nghiệp gặp không ít các khó khăn trong chặng đường phát triển của mình như không duy trì được những giá trị mà doanh nghiệp tạo lập trong bước đường phát triển, không có căn cứ để chỉnh sửa nếu doanh nghiệp gặp sai phạm trong bất kỳ khâu nào, không thống nhất cách thực hiện trong từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp và cuối cùng là không biết cụ thể hướng đi tiếp theo nếu các đích tự vạch ra đã đạt được.

3. Xây dựng chiến lược truyền thông:

Truyền thông giúp cho mối quan hệ bên trong công ty giữa Ban lãnh đạo với cán bộ công nhân viên và cổ đông cũng như mối quan hệ bên ngoài giữa công ty với khách hàng và các đối tác được chặt chẽ hơn.

Tất cả những điều trên sẽ không thể được thưc hiện tốt nếu không có một chiến lược truyền thông bám sát chiến lược kinh doanh và chiến lược phát triển thương hiệu của doanh nghiệp. Các chiến lược này cần phải công khai và cập nhật thường xuyên để mọi cá nhân, mọi phòng ban tiện theo dõi.  Chiến lược cần phải rõ ràng và dễ hiểu để tránh nhầm lẫn và phổ cập tới tất cả các đối tượng liên quan.  

4. Xây dựng kế hoạch đào tạo, tuyển dụng và qui trình quản lí thương hiệu công ty: 

Đây là công việc không kém phần quan trọng.  Nó giúp cho việc xây dựng văn hóa công ty và giải quyết tốt vấn đề về nhân sự.

Lý do phải thực hiện đầy đủ các bước này là : trong quá trình phát triển của doanh nghiệp tất cả mọi việc đều có thể thay đổi từ chiến lược kinh doanh, vốn và những nhân sự trực tiếp điều hành doanh nghiệp do nhiều lí do khách quan đem lại.  Nếu không làm tốt các việc trên, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn nếu phải ra quyết định hay làm lại các qui trình mình đã đặt ra hay đang thực hiện.

VI.    Thời gian cần thiết để xây dựng thương hiệu công ty cho doanh nghiệp:

1.   Xây dựng thương hiệu là quá trình dài, không có điểm dừng.

Chúng ta có thể xây dựng bền bỉ trong vòng 20 năm, nhưng chỉ cần lơ là 5 phút là có thể phá hỏng đi tất cả.   Một khi chúng ta đã phát triển kinh doanh và lấy thương hiệu làm trọng tâm, thì chúng ta phải tuân thủ ngoặt nghèo các qui định nguyên tắc đã đặt ra mọi lúc mọi nơi. 

Nhưng, thương hiệu tự nó cũng sẽ quản lí được nó, các bạn chỉ cần làm tốt thời gian đầu, đến khi thương hiệu đủ mạnh, tức khắc bộ máy sẽ tự vận hành theo cách tốt nhất của nó. 

2.  Giai đoạn khởi đầu rất quan trọng.  Doanh nghiệp không nên mạo hiểm tự làm.

Giống như chúng ta đang xây dựng một ngôi nhà nhiều tầng.  Nếu chúng ta làm móng ẩu, tức là không tham khảo tư vấn của các chuyên gia chuyên nghiệp, thì sau này chúng ta có làm tiếp đẹp đến đâu đi nữa, ngôi nhà vẫn có thể đổ bất cứ lúc nào.

Làm thương hiệu công ty cũng giống hệt như vậy đó.

3.  Xây dựng thương hiệu cần có chiến lược và mục tiêu rõ ràng cho từng giai đoạn.

Mỗi giai đoạn tương ứng với một khoảng thời gian nhất định. Giai đoạn đó chỉ hoàn thành khi các mục tiêu đã đặt ra đã hoàn tất. 

Thời gian xây dựng thương hiệu công ty cho doanh nghiệp nhanh hay chậm phụ thuộc vào chiến lược thực hiện và triển khai của từng doanh nghiệp.

 

Lê Tuấn Anh

 

>> Các tin tức khác:....................................................................................

Tiếp

 

Các bài viết cần đọc

10 thảm họa thương hiệu năm 2010

Các thiệt thòi khi không có thương hiệu công ty mạnh.

Thực hiện cắt giảm thuế quan Khu vực ASEAN: 99% dòng thuế được áp dụng từ 0-5% trong năm 2010

Sau 2 năm Việt Nam gia nhập WTO Ngân hàng nội yếu thế.

BẢNG ĐÁNH GIÁ TÍNH CÁCH THƯƠNG HIỆU

 

Tin nổi bật

Khách hàng mục tiêu của Vietname Pro là các công ty cổ phần bảo hiểm, tài chính

Khách hàng mục tiêu của Vietname Pro là các công ty cổ phần nước giải khát

Khách hàng mục tiêu của Vietname Pro là các ngân hàng thương mại cổ phần:

Nhận định tình hình

GM và Ford khởi sắc, Chrysler vẫn uể oải